Đặt câu hỏi
icon-up-arrow
Xem thêm ↓
Đại học Sư phạm Hà Nội
Đại học Sư phạm Hà Nội
136 Xuân Thuỷ, Q.Cầu Giấy, Hà Nội

Điện thoại: (04) 3754 7823 - Email: email@hnue.edu.vn - Website: http://www.hnue.edu.vn

Link sponsor:

Giới thiệu

 

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội được thành lập ngày 11 tháng 10 năm 1951 theo Nghị định 276 của Bộ Quốc gia Giáo dục. Ngày 10 tháng 12 năm 1993 theo Nghị định 97/CP của Chính phủ, trường là một trường thành viên của Đại học Quốc gia Hà Nội. Theo Quyết định 201/QĐTTg ngày 12 tháng 10 năm 1999 của Thủ tướng Chính phủ, trường được tách khỏi Đại học Quốc gia Hà Nội và mang tên là Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.


Trường Đại học Sư phạm Hà Nội là trường trọng điểm, đầu ngành trong hệ thống của các trường sư phạm, là trung tâm lớn về đào tạo giáo viên và nghiên cứu khoa học và là nơi tạo nên nhiều nhân tài, nhà khoa học danh tiếng cho đất nước.


Các giai đoạn lịch sử quan trọng trong quá trình phát triển của trường bao gồm giai đoạn 1951-1966 (trường mang tên là Trường Đại học Sư phạm Hà Nội), giai đoạn 1966-1993 (trường mang tên là Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 1), giai đoạn 1993-1999 (trường mang tên là Đại học Sư phạm thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội) và giai đoạn từ tháng 10 năm 1999 đến nay (trường mang tên là Trường Đại học Sư phạm Hà Nội). Hiện nay, trường Đại học Sư phạm Hà Nội là một trong hai trường Đại học Sư phạm trọng điểm của nước ta.


Quá trình hơn 50 năm xây dựng và phát triển của nhà trường gắn liền với sự phát triển của đất nước, nền giáo dục - đào tạo và nền đại học Việt Nam. Vượt lên những khó khăn, các thế hệ cán bộ quản lí, giảng viên, nhân viên, sinh viên, học sinh đã tô thắm truyền thống vẻ vang của nhà trường.

 

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã và đang phấn đấu làm tròn chức năng "máy cái của ngành giáo dục", trở thành trường chuẩn mực vừa đào tạo giáo viên các cấp có chất lượng cao vừa nghiên cứu khoa học đạt trình độ tiên tiến làm nòng cốt thúc đẩy sự phát triển của hệ thống sư phạm trong cả nước, góp phần giải quyết các vấn đề then chốt của nền giáo dục quốc dân nói chung và ngành sư phạm nói riêng.


Tính đến năm 2004, trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã đào tạo 76.300 cử nhân (41.092 cử nhân chính qui, 26.910 cử nhân tại chức, 7.624 cử nhân từ xa, 674 cử nhân thuộc các hệ khác), 3.885 thạc sĩ (580 thạc sĩ Toán-Tin, 350 thạc sĩ Vật lí, 358 thạc sĩ Hóa học, 379 thạc sĩ Sinh - Kĩ thuật nông nghiệp, 960 thạc sĩ Ngữ văn, 232 thạc sĩ Lịch sử, 205 thạc sĩ Địa lí, 703 thạc sĩ Tâm lí - Giáo dục, 28 thạc sĩ Sư phạm kĩ thuật, 4 thạc sĩ Giáo dục tiểu học và 86 thạc sĩ Giáo dục mầm non). Trường là cơ sở đào tạo sau đại học đầu tiên ở Việt Nam (bắt đầu đào tạo sau đại học từ năm 1970). Hàng năm, trường Đại học Sư phạm Hà Nội có 4.950 sinh viên chính qui, 2.000 sinh viên chuyên tu, 6.000 sinh viên tại chức, 25.000 sinh viên từ xa, 1.400 học viên thạc sĩ và 245 nghiên cứu sinh. Trường có 40 chuyên ngành đào tạo thạc sĩ và 39 chuyên ngành đào tạo tiến sĩ.


Theo Báo cáo tổng kết năm học 2004-2005 của trường Đại học Sư phạm Hà Nội, trường có 6.983 sinh viên hệ chính qui trong đó có 1.453 sinh viên hệ chính qui theo địa chỉ, 46.768 sinh viên hệ không chính qui trong đó có 31.912 sinh viên hệ từ xa và 16.856 sinh viên hệ tại chức. Số sinh viên hệ chính qui tốt nghiệp đại học là 1.062 (tỉ lệ tốt nghiệp đại học là 92,59%, tỉ lệ tốt nghiệp loại giỏi là 11,68%, tỉ lệ tốt nghiệp loại khá là 59,04%, tỉ lệ tốt nghiệp loại trung bình khá là 29,2% và tỉ lệ tốt nghiệp loại trung bình là 0,09%). Trường tuyển mới 72 nghiên cứu sinh, 950 học viên cao học, 210 học viên dự án và mở một số lớp bồi dưỡng cấp chứng chỉ sau đại học. Có 80 nghiên cứu sinh bảo vệ luận án tiến sĩ cấp Nhà nước, 659 học viên cao học bảo vệ luận văn thạc sĩ và 300 học viên được cấp chứng chỉ bồi dưỡng sau đại học.


Trong quá trình xây dựng và phát triển, đặc biệt là trong thời kì đổi mới, trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị, được xã hội tín nhiệm và đánh giáo cao. Từ năm 1996 đến nay, trường đã tuyển được nhiều học sinh giỏi và đã đào tạo các cử nhân khoa học tài năng tại 7 khoa là khoa Toán, khoa Vật lí, khoa Hóa học, khoa Sinh - Kỹ thuật nông nghiệp, khoa Ngữ văn, khoa Lịch sử và khoa Địa lí. Một số sinh viên của hệ đào tạo cử nhân khoa học tài năng được cử đi học nước ngoài. Nhiều sinh viên của trường đạt giải cao trong các kì thi Olympic về khoa học cơ bản và khoa học giáo dục. Hầu hết các cử nhân khoa học tài năng là nguồn cán bộ trẻ cho nhà trường và các trường đại học, cao đẳng, viện nghiên cứu và trường trung học phổ thông.


Một yếu tố quan trọng để bảo đảm yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học là cơ sở vật chất kĩ thuật. Cơ sở vật chất kĩ thuật của trường ngày càng được tăng cường. Nhà trường đã có đủ giảng đường, thư viện, phòng thí nghiệm, xưởng thực hành, cơ sở thực tập và phương tiện kĩ thuật phục vụ cho dạy và học. Nhà trường đã tạo ra môi trường xanh, sạch, đẹp và lành mạnh. Trường Đại học Sư phạm Hà Nội kiên trì thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh là "... làm thế nào để nhà trường này chẳng những là trường sư phạm mà còn là trường mô phạm của cả nước".


Trường Đại học Sư phạm Hà Nội là đơn vị trọng điểm trong nghiên cứu khoa học và ứng dụng khoa học giáo dục của ngành. Trường có hơn 2.000 công trình nghiên cứu khoa học. Trong giai đoạn 1996-2003, trường có trên 600 đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước và cấp Bộ trong đó có 178 đề tài thuộc các chương trình trọng điểm quốc gia, 11 đề tài đặc biệt cấp Bộ, 3 đề tài trọng điểm cấp Bộ,... Nhiều nhà khoa học của trường trở thành các nhà khoa học tầm cỡ quốc gia và quốc tế và được nhận các Giải thưởng Hồ Chí Minh và Giải thưởng Nhà nước. Trong năm học 2004-2005, trường đã tiến hành nghiệm thu 135 đề tài nghiên cứu khoa học trong đó có 26 đề tài cấp Nhà nước, 44 đề tài cấp Bộ và 65 đề tài cấp Trường. Hiện nay, trường đang triển khai 172 đề tài nghiên cứu khoa học trong đó có 26 đề tài cấp Nhà nước, 77 đề tài cấp Bộ, 113 đề tài cấp Trường trong đó có 25% số đề tài phục vụ đổi mới phương pháp đào tạo. Các đề tài bao gồm các lĩnh vực khoa học cơ bản, khoa học ứng dụng sản xuất phục vụ đời sống và khoa học sư phạm phục vụ đổi mới phương pháp đào tạo cử nhân chất lượng cao và sau đại học. Trường kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu khoa học và đào tạo sau đại học thông qua hướng nghiên cứu gắn với các đề tài luận án. Kinh phí cấp cho nghiên cứu khoa học ngày một tăng. Từ kinh phí nghiên cứu hàng năm khoảng 400 triệu đồng đến nay là xấp xỉ 8 tỉ đồng. Đó là chưa kể đến kinh phí cho các dự án, chương trình nghiên cứu như Dự án Phòng thí nghiệm Hóa - Công nghệ sinh học (hơn 29 tỉ đồng), Dự án nghiên cứu vùng sinh thái- kinh tế sông Đà (3 tỉ đồng), Dự án Sida (3 tỉ đồng), Dự án tăng cường trang thiết bị cho Viện Nghiên cứu sư phạm (3 tỉ đồng), Dự án lưu trữ gen (200 triệu đồng), Dự án phát triển giống lúa đột biến (300 triệu đồng), Chương trình ứng dụng công nghệ thông tin (500 triệu đồng),… Kinh phí đầu tư trang thiết bị hàng năm phục vụ cho nghiên cứu và đào tạo khoảng 3 đến 4 tỉ đồng trong đó ưu tiên đầu tư trọng điểm cho một số phòng thí nghiệm quan trọng. Trường còn triển khai nghiên cứu đưa công nghệ thông tin và giáo dục môi trường vào các trường phổ thông (xây dựng hơn 100 phần mềm đổi mới phương pháp dạy và học, tổ chức lớp học và cấp 500 chứng chỉ bồi dưỡng công nghệ thông tin cho cán bộ, giáo viên của 44 Sở Giáo dục và Đào tạo, tổ chức lớp học và cấp 350 chứng chỉ Giáo dục môi trường cho học viên của 40 Sở Giáo dục và Đào tạo, mở 20 lớp bồi dưỡng về công nghệ thông tin cho cán bộ trong toàn trường).


Nhờ có đội ngũ cán bộ giảng dạy, nghiên cứu hùng hậu, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội có thể xây dựng chương trình, biên soạn giáo trình có chất lượng cao nhằm phục vụ yêu cầu đào tạo của trường và cung cấp cho ngành sư phạm. Hai phần ba số tác giả biên soạn sách giáo khoa phổ thông là cán bộ của trường. Từ năm 1996 đến năm 2003, trường đã biên soạn 223 đầu sách giáo trình và tài liệu tham khảo. Nhà xuất bản Đại học Sư phạm của trường tuy mới thành lập nhưng đã xuất bản 147 đầu sách với số lượng hàng vạn bản. Nhà trường rất chú trọng và đẩy mạnh chương trình đổi mới phương pháp dạy và học, sử dụng công nghệ thông tin trong quá trình quản lí và giảng dạy. Trong năm học 2004-2005, trường đã xuất bản 112 giáo trình cho các hệ chính qui và không chính qui

 

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội là một trong những trường có thành tích xuất sắc trong đào tạo tài năng trẻ cho đất nước. Hệ trung học phổ thông chuyên đã đào tạo gần 2.000 học sinh tốt nghiệp phổ thông loại giỏi và xuất sắc. Có 36 học sinh đoạt Huy chương (10 Huy chương Vàng, 17 Huy chương Bạc và 11 Huy chương Đồng) tại các kì thi Olympic quốc tế. Đặc biệt là liên tục từ năm 1999 đến nay, năm nào trường cũng có học sinh đoạt Huy chương Vàng Olympic quốc tế và khu vực châu Á-Thái Bình Dương.


Trường Đại học Sư phạm Hà Nội cũng là trường có thành tích cao trong phong trào sinh viên nghiên cứu khoa học. Liên tục từ năm 1998 đến nay, trường đều có sinh viên đạt giải cao. Năm 2003 trường có hơn 600 công trình nghiên cứu khoa học của sinh viên. Trường đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo ghi nhận là một trong những đơn vị đạt thành tích xuất sắc trong phong trào sinh viên nghiên cứu khoa học. Trong 10 năm trở lại đây, trường có 8 giải Nhất, 11 giải Nhì, 6 giải Ba, 20 giải Khuyến khích cấp Bộ của sinh viên nghiên cứu khoa học. Trường là một trong 7 trường đại học có thành tích sinh viên nghiên cứu khoa học cao nhất trong cả nước.

 

www.edunet.com.vn

Nguồn: Đại học Sư phạm Hà Nội

Link sponsor:

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO
Đại học
Tên ngành Phương thức tuyển sinh Khối thi Điểm chuẩn 2013
Chính trị học (sư phạm Triết học) Thi tuyển A, B, C, D1, D2, D3 15, 15, 15, 15, 15, 15
Công nghệ thông tin Thi tuyển A, A1 17.5, 17.5
Công tác xã hội Thi tuyển C, D1 16, 16
Giáo dục Chính trị Thi tuyển A, A1, C, D1, D2, D3 15, 15, 15, 15, 15, 15
Giáo dục công dân Thi tuyển A, A1, B, C, D1, D2, D3 16, 16, 16, 16, 16, 16, 16
Giáo dục Đặc biệt Thi tuyển C, D1 16.5, 16.5
Giáo dục Mầm non Thi tuyển M 21.5
Giáo dục Quốc phòng - An ninh Thi tuyển A, C 15, 15
Giáo dục Thể chất Thi tuyển T 24.5
Giáo dục Tiểu học Thi tuyển A1, D1, D2, D3 21.5, 21.5, 21.5, 21.5
Quản lí giáo dục Thi tuyển A, C, D1 15.5, 15.5, 15.5
Sinh học Thi tuyển A, B 20.5, 20.5
Sư phạm Âm nhạc Thi tuyển N 22
Sư phạm Địa lí Thi tuyển A, C 17.5, 20
Sư phạm Hóa học Thi tuyển A 24
Sư phạm Kĩ thuật công nghiệp Thi tuyển A, A1 15, 15
Sư phạm Lịch sử Thi tuyển C, D1, D2, D3 18, 18, 18, 18
Sư phạm Mĩ thuật Thi tuyển H 22
Sư phạm Ngữ văn Thi tuyển C, D1, D2, D3 21.5, 21.5, 21.5, 21.5
Sư phạm Sinh học Thi tuyển B 21
Sư phạm tiếng Anh Thi tuyển D1 26
Sư phạm Tiếng Pháp Thi tuyển D1, D3 23, 23
Sư phạm Tin học Thi tuyển A, A1 17, 17
Sư phạm Toán học Thi tuyển A 24
Sư phạm Vật lí Thi tuyển A, A1 22, 21
Tâm lý học Thi tuyển A, B, D1, D2, D3 18.5, 18.5, 18.5, 18.5, 18.5
Tâm lý học (ngoài sư phạm) Thi tuyển A, A1, B, D1, D2, D3 18.5, 18.5, 18.5, 18.5, 18.5, 18.5
Toán học Thi tuyển A, A1 21.5, 21.5
Văn học Thi tuyển C, D1, D2, D3 20, 20, 20, 20
Việt Nam học Thi tuyển C, D1 16, 16
Cao đẳng
Tên ngành Phương thức tuyển sinh Khối thi Điểm chuẩn 2013
Công nghệ thiết bị trường học Xét tuyển A, A1, B 10, 10, 11